Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị về phát triển vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045

Ngày 07/10/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên, vùng Đông Nam Bộ còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức lớn. Phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; một số chỉ tiêu quan trọng chưa đạt như đề ra.

Nguyên nhân do nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng và liên kết vùng chưa đầy đủ. Thể chế liên kết vùng chưa đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả; thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kết nối vùng quan trọng, quy mô lớn và cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Phân cấp, phân quyền chưa tạo được sự chủ động cho các địa phương. Các quy hoạch chất lượng chưa cao. Năng lực quản lý của bộ máy còn hạn chế; năng lực cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở về quản trị xã hội…

Đổi mới tư duy, tầm nhìn, phát huy sự năng động, sáng tạo của các địa phương trong quy hoạch và quản lý phát triển vùng. Xây dựng Đông Nam Bộ trở thành vùng văn minh, hiện đại, hội nhập quốc tế. Coi trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Để tiếp tục, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng Đông Nam Bộ, Nghị quyết đưa các nhóm quan điểm cùng các mục tiêu và giải pháp, nhiệm vụ cụ thể. Nổi bật là, về kinh tế, đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế vùng theo hướng hiện đại, lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm.

Tăng cường kết nối các khu công nghiệp, khu chế xuất để hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp. Tập trung thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, có khả năng tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao, sinh thái, bền vững. Phát triển mạnh kinh tế biển, dịch vụ hậu cần cảng biển.

Về văn hóa xã hội, tập trung phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá – xã hội tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. Tạo chuyển biến mạnh mẽ chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đi đầu trong thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tăng cường chăm sóc sức khỏe nhân dân với hệ thống y tế chất lượng, tiếp cận được dịch vụ kỹ thuật cao, mở rộng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế. Tăng cường quản lý và bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Cùng đó, Nghị quyết cũng xác định rõ các nhiệm vụ về công tác hoàn thiện thể chế, chính sách và đẩy mạnh phát triển liên kết vùng; phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, đô thị; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Nhất là đào tạo, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp…

Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, Đông Nam Bộ trở thành vùng phát triển, có tiềm lực kinh tế mạnh, cơ cấu kinh tế hiện đại; trung tâm khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế thuộc nhóm đầu của khu vực và thế giới; kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư quán triệt, trước hết phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, tạo ra sự thống nhất cao trong nhận thức ở tất cả các cấp, các ngành về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của vùng và liên kết vùng. Liên kết vùng phải trở thành tư duy chủ đạo dẫn dắt sự phát triển toàn vùng và từng địa phương trong vùng.

Tiếp đó, phải khơi dậy, phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, đổi mới, năng động, sáng tạo; ý chí, quyết tâm, khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và nhân dân các địa phương trong vùng; quyết vượt lên chính mình, khắc phục tư tưởng tự mãn, bằng lòng với những gì đã làm, đã đạt được.

Tất cả các cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong vùng phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn nữa về vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của vùng động lực phát triển lớn nhất, đầu tàu kinh tế mạnh mẽ nhất cả nước; xác định rõ tiềm năng, lợi thế, những khó khăn, thách thức, điểm nghẽn đối với phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng có vai trò đặc biệt quan trọng để đề ra các chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp, có tính khả thi cao, tạo sự chuyển biến có tính đột phá trong phát triển vùng.














 194 total views,  2 views today

5/5 - (3 đánh giá)