09 Nghị quyết chiến lược đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới

Để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 9 nghị quyết chiến lược trên nhiều lĩnh vực then chốt, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị cao, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

1. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh quan điểm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.

Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ rào cản đang cản trở sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là phương tiện hỗ trợ, mà phải được xác định là nền tảng phát triển và lực đẩy chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới.”

2. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới

Nghị quyết số 59-NQ/TW xác định mục tiêu tổng quát là nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ và toàn diện của quá trình hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và phát triển nhanh, bền vững…

Mục tiêu cụ thể là: Hội nhập kinh tế quốc tế; Hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh; Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục-đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác; Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị hội nhập quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy và hành động trong hội nhập; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số; đẩy mạnh hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh theo hướng sâu rộng và hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; thúc đẩy hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục, đào tạo và y tế; nâng cao năng lực thực thi cam kết quốc tế, gắn với hoàn thiện thể chế, pháp luật trong nước; đồng thời nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều phối công tác hội nhập, phát huy vai trò chủ động của các địa phương.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Nghị quyết 59 là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong công cuộc hội nhập quốc tế kỷ nguyên mới”.

3. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi. Cụ thể là, năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật; năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước; năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước; nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; quản trị quốc gia hiện đại với bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.

Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp chiến lược: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật. Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả. Nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế. Xây dựng giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Thực hiện cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Nghị quyết 66 chính là lời hiệu triệu cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc, nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại, thực chất, vì nhân dân phục vụ, đồng thời tạo ra động lực bền vững cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trong thế kỷ XXI”.

4. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Đồng thời, yêu cầu xóa bỏ định kiến, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, doanh nhân làm lực lượng nòng cốt để thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp 55-58% GDP, giải quyết 84%-85% việc làm xã hội. Tầm nhìn đến 2045 là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, cạnh tranh toàn cầu và thực sự trở thành trụ cột của nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Nghị quyết đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp: Đổi mới tư duy trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân. Cải cách mạnh mẽ thể chế, xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, loại bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Đặc biệt, Nghị quyết 68 nhấn mạnh hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực thiết yếu: đất đai, tín dụng, nhân lực chất lượng cao. Thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh bền vững trong kinh tế tư nhân. Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Nghị quyết còn đưa ra cơ chế cụ thể hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp; cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán, tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ…

Sự ra đời của Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng, mà còn thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển vượt bậc. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Nghị quyết 68 “đặt nền móng cho sự chuyển biến toàn diện về chính sách phát triển kinh tế tư nhân: từ việc “thừa nhận” sang “bảo vệ, khuyến khích, thúc đẩy”, từ “bổ trợ” sang “dẫn dắt phát triển”. Đây là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, cấp thiết, mang tầm nhìn dài hạn, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI”.

5. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Nghị quyết số 70-NQ/TW nêu rõ mục tiêu đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, cung cấp đủ và ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành năng lượng sẽ phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ, thông minh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; công suất nguồn điện đạt 183-236 GW với sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 25-30% tổng cung; độ tin cậy cung cấp điện đạt tiêu chí hàng đầu ASEAN; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng từ 8-10% và giảm phát thải khí nhà kính từ 15-35% so với kịch bản thông thường. Tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng Việt Nam phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, có thị trường cạnh tranh minh bạch, hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế, chất lượng nhân lực và trình độ công nghệ ngang bằng các nước công nghiệp phát triển.

Các giải pháp được Nghị quyết xác định gồm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của toàn xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách để tạo lợi thế cạnh tranh; phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng vững chắc; đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và thực hiện các cam kết quốc tế; huy động mọi nguồn lực xã hội, đặc biệt khuyến khích khu vực tư nhân; đột phá trong nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng.

6. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành bậc trung học phổ thông, không có tỉnh, thành phố nào dưới 60%; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%…

Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

Đến năm 2035, hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, nâng chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI lên trên 0,85, có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 100 trường hàng đầu thế giới. Tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới…

Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết nêu các giải pháp trọng tâm như: đổi mới tư duy, hành động và nâng cao quyết tâm chính trị; đổi mới thể chế, tạo cơ chế chính sách đặc thù; chú trọng giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ; thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn; cải cách giáo dục nghề nghiệp để phát triển nhân lực có kỹ năng cao; hiện đại hóa giáo dục đại học, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; đồng thời đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.

7. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân

Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt mục tiêu nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của nhân dân. Đến năm 2030, tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-18 tuổi thêm tối thiểu 1,5cm; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ tiêm chủng các vắc-xin trong Chương trình tiêm chủng thiết yếu đạt trên 95%.

Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình. Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số, đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới môi trường sống chất lượng, hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi, số năm sống khỏe mạnh trên 71 năm, tầm vóc, thể lực ngang bằng các nước phát triển.

Các giải pháp trọng tâm gồm: đổi mới tư duy trong lãnh đạo, tổ chức công tác y tế; hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng và cơ sở; nâng cao y đức, phát triển nhân lực y tế đồng bộ; cải cách tài chính y tế và phát triển chính sách bảo hiểm bền vững; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chăm sóc sức khỏe; phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho lĩnh vực y tế.

8. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước

Sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Nghị quyết số 79-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng đối với thành phần kinh tế đặc biệt quan trọng này. Nghị quyết khẳng định quan điểm: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

Mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong của kinh tế nhà nước trong các ngành then chốt; dẫn dắt các thành phần kinh tế cùng phát triển; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có nông nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển vào năm 2045.

Nghị quyết đề ra một số giải pháp gồm: Hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế. Tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia, khuyến khích hợp tác công tư trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia; trong đó, dữ liệu về chủ thể và các nguồn lực của kinh tế nhà nước.

9. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về phát triển nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, chính trị, xã hội với văn hóa và con người.

Nghị quyết khẳng định, phát triển văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển bền vững đất nước. Sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện quyết tâm hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030 xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa; thu hẹp chênh lệch trong thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền; từng bước hình thành các thương hiệu văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có tầm vóc khu vực và quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển; văn hóa trở thành sức mạnh mềm nổi bật, góp phần khẳng định vị thế Việt Nam là quốc gia phát triển, có thu nhập cao.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện và đồng bộ, tập trung vào đổi mới tư duy phát triển văn hóa; hoàn thiện thể chế, chính sách đột phá; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; phát triển mạnh công nghiệp văn hóa gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa.

Loading

5/5 - (1 đánh giá)
50 lượt xem